Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vì sự phát triển bền vững

Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vì sự phát triển bền vững

1.Những thành tựu nổi bật trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

          Trong sự nghiệp bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu. Xin được lựa chọn 7 thành tựu tiêu biểu nhất bởi giá trị về tầm nhìn, ý nghĩa xã hội và quốc tế.

          Một là, Sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bảo tồn cổ tích.              

          Cũng ngày này cách đây 73 năm, ngày 23/11/1945, chỉ hơn 2 tháng sau khi nước nhà giành được độc lập, còn bộn bề biết bao nhiêu công việc cấp bách cần giải quyết, nhưng với tầm nhìn minh triết của một vĩ nhân – danh nhân văn hoá kiệt suất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65/SLvề bảo tồn cổ tích trong toàn cõi Việt Nam, trong đó xác định: Bảo tồn cổ tích là việc rất cần cho công cuộc kiến thiết nước Việt Nam. Tại Điều 4 của Sắc lệnh nêu rõ: Cấm phá hủy đình chùa, đền miếu, hoặc những nơi thờ tự khác như cung điện, thành quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn. Cấm phá hủy những bia ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính cách tôn giáo nhưng có ích cho lịch sử.

          Với ý nghĩa lịch sử to lớn của Sắc lệnh này, ngày 24/02/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 36/QĐ-TTg lấy ngày 23 tháng 11 hàng năm là Ngày Di sản văn hoá Việt Nam nhằm phát huy truyền thống và ý thức trách nhiệm của tổ chức, cá nhân hoạt động trên lĩnh vực di sản văn hoá, động viên và thu hút mọi tầng lớp xã hội tham gia tích cực vào sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá dân tộc.

          Hai là, Luật Di sản văn hoá năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 điều chỉnh cả di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể.        

          Xét thấy di sản văn hoá và thiên nhiên ngày càng bị đe dọa hủy hoại, sự xuống cấp hoặc biến mất của di sản cũng làm nghèo đi di sản của mọi dân tộc, đồng thời việc bảo vệ di sản ở cấp quốc gia còn những bất cập do hạn chế về tiềm năng kinh tế, khoa học và công nghệ, nên tại Kỳ họp lần thứ 17 năm 1972, Đại hội đồng UNESCO đã thông qua Công ước về Bảo vệ di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới (di sản vật thể). 31 năm sau, năm 2003, xét thấy tầm quan trọng của di sản văn hoá phi vật thể như là động lực chính của đa dạng văn hoá và là một đảm bảo cho phát triển bền vững, đồng thời nhận thấy chưa có một văn kiện ràng buộc đa phương nào cho công tác bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể, tại Phiên họp ngày 17/10/2003, Đại hội đồng UNESCO đã thông qua Công ước về Bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể.

          Trên thực tế, các di tích lịch sử – văn hoá (di sản vật thể) ở nước ta đều hàm chứa những giá trị tinh thần (di sản phi vật thể) to lớn và sâu sắc, gắn kết với nhau. Việc phân định giá trị di sản văn hoá vật thể và phi vật thể chỉ là tương đối. Đồng thời, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) năm 1998, khi đề ra nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa đã nhấn mạnh cả văn hóa vật thể và phi vật thể. Bởi vậy, việc đưa di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh và di sản văn hoá phi vật thể vào Luật Di sản văn hoá được nhiều chuyên gia quốc tế cho là hợp lý mà không phải nước nào cũng có được một bộ luật chung như vậy.

          Ba là, Nghi định của Chính phủ số 62/2014/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2014 Quy định về xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể và Nghi định số 109/2017/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2017 Quy định về bảo vệ và quản lý di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới có ý nghĩa đối với cộng đồng xã hội và quốc tế.

          Việc xét tặng danh hiệu nghệ nhân thể hiện sự quan tâm và ghi nhận của Đảng và Nhà nước ta đối với những nghệ nhân có đóng góp xuất sắc, nắm giữ và có công truyền dạy, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, góp phần làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc.

           Nghị định về Bảo vệ và quản lý di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam nhằm bảo vệ Giá trị Nổi bật Toàn cầu, tính xác thực và toàn vẹn của di sản thế giới, thực hiện những cam kết của Việt Nam đối với UNESCO. Văn bản pháp lý này được sự quan tâm của quốc tế, bởi vì nhiều nước chưa có một văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao riêng cho việc quản lý di sản thế giới ở nước mình.

          Bốn là, Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO ghi danh 5 danh hiệu.

          Không có ở các di sản khác của Việt Nam và cũng hiếm thấy ở các nước trên thế giới, trong một khu di sản lại được UNESCO ghi danh tới 5 danh hiệu cao quý: Quần thể di tích Cố đô Huế là Di sản văn hoá thế giới (1993), Nhã nhạc – Âm nhạc cung đình Việt Nam là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại (2003) và 3 di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới: Mộc bản triều Nguyễn (2009), Châu bản triều Nguyễn (2017) là Di sản tư liệu thế giới và Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế (2016) là Di sản tư liệu khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

          Năm là, Quần thể danh thắng Tràng An – Di sản hỗn hợp đầu tiên của Việt Nam và Đông Nam Á, được UNESCO ghi danh là di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới.

          Ngày 23/6/2014, tại Phiên họp lần thứ 38 của Ủy ban Di sản thế giới, Quần thể danh thắng Tràng An, tỉnh Ninh Bình đã được UNESCO ghi danh là Di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới. Quần thể danh thắng Tràng An có tính phức hợp về Giá trị Nổi bất Toàn cầu, bao gồm cả giá trị về địa chất địa mạo – cảnh quan, giá trị rừng nguyên sinh đặc dụng Hoa Lư và giá trị lịch sử – văn hóa (di tích khảo cổ học minh chứng cho quá trình thích ứng của con người thời tiền sử với biến đổi khí hậu, nước biển dâng) và Khu di tích Cố đô Hoa Lư – Kinh đô đầu tiên của nhà nước Đại Việt có chủ quyền.

          Sáu là, Hát Xoan Phú Thọ là di sản đầu tiên trong các nước thành viên được UNESCO chuyển từ Danh sách Di sản văn hoá phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp sang Danh sách Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại.

          Tháng 11 năm 2011, Ủy ban Liên Chính phủ về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO (sau đây gọi tắt là Ủy ban Liên Chính phủ) đã ghi danh Hát Xoan Phú Thọ là Di sản văn hoá phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Sau khi được ghi danh, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Phú Thọ đã chỉ đạo các cơ quan chức năng thực hiện nhiều giải pháp và cơ chế, chính sách phục hồi và mở rộng số lượng các phường Xoan, các câu lạc bộ Hát Xoan; tổ chức truyền dạy, thu hút đông đảo thế hệ trẻ tham gia học và trình diễn Hát Xoan, đưa Hát Xoan vào chương trình giáo dục cho học sinh các trường phổ thông; thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những nghệ nhân có công truyền dạy, bảo tồn Hát Xoan. Trên cơ sở đó, năm 2015 tỉnh Phú Thọ đã có báo cáo định kỳ về Hát Xoan sau 4 năm bảo tồn và phát huy giá trị đạt chất lượng cao, nên đề nghị được chuyển Hát Xoan sang Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Ban Thư ký của Ủy ban Liên Chính phủ đánh giá cao Báo cáo Hát Xoan của tỉnh Phú Thọ. Tuy nhiên, do Ủy ban Liên Chính phủ chưa có văn bản hướng dẫn cho các quốc gia thành viên về điều kiện, quy trình, thủ tục được chuyển từ Danh sách Di sản cần bảo vệ khẩn cấp sang Danh sách Di sản đại diện của nhân loại, nên Ủy ban Liên Chính phủ đã đồng ý đặc cách cho Việt Nam xây dựng Hồ sơ trình UNESCO đưa Hát Xoan vào Danh sách Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Tỉnh Phú Thọ đã khẩn trương xây dựng Hồ sơ. Đầu năm 2016, Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia đã thẩm định. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã báo cáo và được Thủ tướng Chính phủ cho phép trình Hồ sơ cho UNESCO. Tại Kỳ họp lần thứ 12 tháng 12/2017 vừa qua, Ủy ban Liên Chính phủ về Bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể đã quyết định đưa Hát Xoan Phú Thọ, Việt Nam ra khỏi Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, để đưa vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

          Bảy là, Di sản văn hóa không chỉ có giá trị to lớn về lịch sử, văn hóa và khoa học, mà còn là một nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội bền vững.         

          Trong nhiều năm qua, với kết quả nổi bật trong công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản, bằng việc đa dạng hóa các sản phẩm du lịch và tăng cường hoạt động quảng bá, di sản văn hóa ở nước ta trở thành điểm đến hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước, số lượt khách và nguồn thu từ phí tham quan năm sau đều cao hơn năm trước. Chỉ riêng 8 Di sản Thế giới, năm 2017 đã thu hút gần 16 triệu lượt khách trong nước và quốc tế, thu từ phí tham quan được hơn 2.500 tỷ đồng. Tuyệt đại đa số các khu di sản này đều tăng khoảng 13% – 22% số lượt khách và tăng khoảng 14%-27% tiền thu phí tham quan, trong đó có 2 di sản tăng 53% – 61% so với năm 2016 (Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng và Vịnh Hạ Long). Có những di tích phạm vi không lớn ở Hà Nội như Di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám, năm 2017 thu từ phí tham quan cũng đạt 46 tỷ, Di tích Đền Ngọc Sơn hơn 27 tỷ, Di tích Nhà tù Hỏa Lò 9,8 tỷ đồng. Nếu tính cả nguồn thu từ vé tham quan của hơn 13.500 di tích đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh – thành phố, cấp quốc gia và cấp quốc gia đặc biệt, cùng với hơn 160 bảo tàng công lập và ngoài công lập thì nguồn thu từ kết quả hoạt động phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh và các bảo tàng cả nước không hề nhỏ, góp phần có ý nghĩa vào sự phát triển bền vững kinh tế – xã hội.  

2.Nhận thức về giá trị di sản văn hóa trong phát triển bền vững         

          Trên thế giới hiện đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về phát triển, trong đó có xu hướng coi kinh tế, khoa học và công nghệ là nền tảng của phát triển. Đúng là ba lĩnh vực nêu trên rất quan trọng, nhưng phát triển là một phức hợp đa chiều, tác động qua lại lẫn nhau, gắn bó hữu cơ với rất nhiều thành tố tạo nên sự phát triển; và, suy cho cùng, hạt nhân cơ bản của phát triển là phẩm chất, trí tuệ và giá trị sáng tạo của con người – con người văn hóa.

          Khái niệm “phát triển bền vững”, lần đầu tiên xuất hiện, có lẽ là trong văn bản “Chiến lược Bảo tồn thế giới” do Hiệp hội Bảo tồn thế giới, là tiền thân của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) ban hành năm 1980, được xác định lại trong Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Ủy ban quốc tế về môi trường và phát triển (WCED) năm 1987, được khẳng định tại Hội nghị về Môi trường và phát triển của Liên hợp quốc, họp tại Rio de Janero năm 1992 và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới ở Johannesburg năm 2002. Từ nhiều năm trở lại đây, trên diễn đàn và văn kiện của cộng đồng quốc tế, cũng như trong Chiến lược phát triển, Chương trình hành động của các quốc gia, vấn đề phát triển bền vững đang nổi lên như một trong những mối quan tâm hàng đầu của nhân loại. Liên Hợp Quốc đã đưa ra Chương trình nghị sự 2030 gồm 17 mục tiêu chung và 169 mục tiêu cụ thể về phát triển bền vững.

           Cho đến nay, cách diễn giải khái niệm phát triển bền vững còn có phần khác nhau. Tuy nhiên, có thể nói tổng quát: Phát triển bền vững là sự phát triển đảm bảo nhu cầu phát triển của xã hội hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng phát triển của thế hệ tương lai; là sự gắn kết chặt chẽ và hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hoá, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; sử dụng tài nguyên, mọi nguồn lực hiện có của xã hội một cách căn cơ, hợp lý, hiệu quả, có trách nhiệm không chỉ cho sự phát triển hiện tại mà còn cho các thế hệ mai sau.

          Lịch sử và văn hoá của nước ta không chỉ được lưu lại trong sử sách, mà còn hiện diện trên mọi miền đất nước bởi hàng vạn di tích lịch sử – văn hoá, và cùng với nó là một kho tàng đồ sộ về di sản văn hoá phi vật thể với những giá trị vật chất, tinh thần, văn hoá – nghệ thuật, khoa học to lớn. Di tích lịch sử – văn hoá hiện diện trước chúng ta như là một dấu mốc, ẩn chứa dưới cái vỏ vật chất là giá trị tinh thần to lớn mà ở đó, thế hệ ngày hôm nay có thể nhận biết và học hỏi được từ trong đó những chỉ dẫn về chặng đường phát triển của lịch sử, của đất nước, những truyền thống quý báu, những kinh nghiệm thành công và hạn chế của lịch sử, sự hy sinh, những tấm gương về lòng yêu nước, chống ngoại xâm, giàu nghĩa khí, tận trung với nước với dân, những bậc hiền tài,… Chúng ta có thể học hỏi được từ trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể đồ sộ những giá trị về lịch sử, những bài học quý giá về cách ứng xử, những truyền thống tốt đẹp (truyền thống yêu quê hương, đất nước, “uống nước nhớ nguồn”, chống áp bức, chống ngoại xâm, giàu nghĩa khí, tôn vinh việc học hành, truyền thống khéo tay hay nghề, nếp sống thanh lịch…); những tri thức sâu sắc và phong phú về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa nghệ thuật; những tập tục, sự phong phú về đời sống tâm linh đậm tính nhân văn và bản sắc dân tộc… Đó chính là những chất liệu sống động, có tính kết dính ở tầm sâu, có tính lan tỏa và hội tụ để tạo thành một nguồn lực cho mỗi người, cho phát triển bền vững. Như Luật Di sản văn hoá đã xác định: Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) đã chỉ rõ: Di sản văn hoá là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị nới và giao lưu văn hoá. Tại Hướng dẫn thực hiện Công ước Di sản thế giới, UNESCO cũng xác định: Di sản văn hoá và thiên nhiên là những tài sản vô giá và không thể thay thế được, không chỉ của một dân tộc, mà còn là của nhân loại nói chung. Bất kỳ di sản nào trong số đó nếu biến mất, do xuống cấp hoặc bị huỷ hoại, cũng sẽ làm nghèo đi kho tàng di sản của tất cả các dân tộc trên thế giới.

          Nhận thức được tầm quan trọng của phát triển bền vững trong thời kỳ hội nhập, toàn cầu hoá và thách thức của biến đổi khí hậu, tại Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12 tháng 4 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020”.

          Mặc dù, trong các văn kiện quốc tế về phát triển bền vững cũng như trong Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam không trực tiếp đề cập đến lĩnh vực di sản văn hoá; tuy nhiên, thông qua quan điểm, mục tiêu, định hướng ưu tiên và giải pháp nêu trong Chiến lược, chúng ta có thể nghiên cứu cụ thể hoá những tư tưởng sau đây của Chiến lược vào trong hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá vì sự phát triển bền vững:

          Một là, Con người là trung tâm, là mục tiêu của phát triển bền vững.

          Xu hướng chung của thế giới ngày nay là hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá, cả vật thể và phi vật thể, phải hướng tới cộng đồng hiện đang sống trong khu vực di sản và cộng đồng là du khách đến tham quan di sản.

          Trong cái vỏ vật chất của di tích lịch sử – văn hoá đều hàm chứa những giá trị to lớn về di sản văn hoá phi vật thể, mà cộng đồng chính là người sở hữu, bảo tồn, trao truyền và thực hành di sản. Trong Công ước UNESCO 2003 về Bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể đã ghi nhận rằng, Các cộng đồng, đặc biệt là các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ, duy trì, thực hành và tái tạo di sản văn hoá phi vật thể, từ đó làm giàu thêm sự đa dạng văn hoá và tính sáng tạo của con người.

          Di tích lịch sử – văn hoá đến từ quá khứ, nhưng không đơn thuần chỉ là quá khứ mà phải mang hơi thở của thời đại, phải thực sự trở thành một bộ phận hữu cơ của đời sống đương đại. Việc bảo tồn và phát huy giá trị kho tàng di sản này chính là sự đóng góp cho phát triển bền vững. Trong quá trình triển khai các dự án bảo tồn di sản, cần đặt ra nhiệm vụ nâng cao nhận thức và sự hiểu biết về giá trị của di tích cho cộng đồng sở tại để cộng đồng tham gia có trách nhiệm vào công tác bảo vệ; đào tạo tại chỗ những người dân có tay nghề, có kiến thức hiểu biết về di tích trực tiếp tham gia vào hoạt động bảo tồn hoặc hướng dẫn du khách tham quan di tích, thực hành các trải nghiệm du lịch sinh thái; đồng thời khuyến khích cộng đồng tạo ra những sản phẩm đặc thù, riêng có của địa phương để phục vụ du khách, thông qua đó góp phần nâng cao đời sống người dân sở tại.

          Đối với cộng đồng sống trong khu vực di sản thiên nhiên, bên cạnh việc tạo điều kiện, khuyến khích cộng đồng vận dụng những kinh nghiệm, tri thức truyền thống mà họ tích lũy được trong việc bảo vệ, khai thác nguồn lợi từ rừng, cần có cơ chế chia sẻ lợi ích với cộng đồng từ hoạt động bảo tồn và khai thác các nguồn tài nguyên, tạo điều kiện cho người dân tham gia vào các hoạt động phát triển đa dạng sinh học, tạo công ăn việc làm cho cộng đồng sống trong khu vực di sản;         

          Hai là. Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên không thể tái tạo.

          Di tích lịch sử – văn hoá cũng là một loại “tài nguyên” không thể tái tạo. Điều cốt lõi trong hoạt động bảo tồn di tích là bằng nhiều giải pháp kỹ thuật cổ truyền và khoa học-công nghệ hiện đại giữ cho được “yếu tố gốc cấu thành di tích” (theo từ ngữ của Luật Di sản văn hoá Việt Nam), hay “tính xác thực”, “tính toàn vẹn”, “Giá trị Nổi bật Toàn” cầu của di sản (theo từ ngữ của Công ước UNESCO 1972 về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới) nhằm bảo tồn và khai thác giá trị di tích một cách căn cơ, có trách nhiệm vì sự phát triển bền vững kinh tế – xã hội, không chỉ cho ngày hôm nay, mà còn gìn giữ được loại “tài nguyên không thể tái tạo” này để chuyển giao cho các thế hệ mai sau. Tuy nhiên, ở nơi này, nơi kia vẫn còn để xảy ra hiện tượng tu bổ, tôn tạo làm sai lệch giá trị di tích, thậm chí bỏ di tích cũ để xây công trình mới “hoành tráng” hơn, mà nguyên nhân chủ yếu là chưa nhận thức được giá trị đích thực của di tích, chưa tuân thủ một cách nghiêm túc Luật Di sản văn hóa về việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; Nghị định của Chính phủ quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh. Những sai phạm này làm phương hại đến giá trị di tích, làm ảnh hưởng đến phát triển bền vững. Tuyên bố toàn cầu về đa dạng văn hóa của UNESCO nêu rõ: Di sản ở mọi hình thức của nó phải được bảo tồn, phát huy và truyền thụ cho các thế hệ tương lai như là cơ sở dữ liệu lưu lại kinh nghiệm và những khát vọng của con người, nhằm tăng cường tính sáng tạo với tất cả sự đa dạng của nó và truyền cảm hứng cho cuộc đối thoại giữa các nền văn hóa.

          Mỗi loại hình di sản văn hoá cần có cách tiếp cận và phương pháp bảo tồn đặc thù, nhưng chắc chắn không thể thiếu phương pháp nghiên cứu liên ngành, thậm chí xuyên ngành. Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá không chỉ được hưởng lợi từ kết quả nghiên cứu về khoa học xã hội (sử học, khảo cổ học, dân tộc học, Hán Nôm, văn hoá dân gian, mỹ thuật, kiến trúc,…), mà nhiều ngành khoa học tự nhiên (vật lý, hoá học, sinh học, địa chất, xây dựng,…) cũng góp phần không nhỏ. Bởi vậy, để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá dưới tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu, những tổ chức trực tiếp quản lý di sản cần chủ động xây dựng các chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học có tính liên ngành, tìm ra các giải pháp khoa học nhằm hạn chế tác hại của thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu một cách có hiệu quả để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá vì sự phát triển bền vững.

          Đối với di sản văn hóa phi vật thể, mặc dù đã đạt được nhiều kết quả to lớn và có ý nghĩa, đã có cách tiếp cận mới trong hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị loại tài sản dễ bị tổn thương này; tuy nhiên, trên thực tế cũng còn một số loại hình di sản văn hoá phi vật thể đang đứng trước nhiều thách thức và sự mai một, như di sản truyền khẩu, tri thức dân gian, tập quán xã hội… Không gian văn hóa thay đổi làm biến đổi thực hành di sản, số lượng người thực hành di sản ngày một ít, nguồn tài chính hỗ trợ cộng đồng bảo tồn và trao truyền di sản rất ít và không thường xuyên… Ngày xưa cũng vậy và ngày nay cũng vậy, cộng đồng làng xã là người trực tiếp bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá. Hội làng ngày xưa sao mà hay thế, đẹp thế! – “tả tơi” nhưng đầy tính văn hoá, nhân văn. Quy mô lễ hội cổ truyền ngày nay ngày càng lớn (liên xã, liên huyện, liên tỉnh, quốc gia), dù sao, cộng đồng cũng phải được coi là chủ thể chính cùng với sự tư vấn của các chuyên gia về lễ hội, sự phối hợp của tổ chức trực tiếp quản lý di sản, sự quan tâm chỉ đạo của chính quyền, đoàn thể các cấp trong việc giữ gìn an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường… thì lễ hội sẽ trở thành một nguồn lực lớn cho phát triển bền vững.

          Ba là, Hạn chế tác hại của thiên tai, chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng.

          Một đặc điểm nổi bật của di tích lịch sử – văn hóa ở nước ta là rất đa dạng, phong phú về mặt loại hình (đình, đền, chùa, miếu, thành quách, lăng tẩm, đền tháp, cung điện, nhà cổ, di tích cách mạng, kháng chiến,…) và về chất liệu (gạch, đá, gỗ, tre, nứa, lá,…), trong đó, tuyệt đại đa số là chất liệu hữu cơ, rất dễ bị biến dạng, nấm mốc, mối mọt, hư hỏng, xuống cấp, sụp đổ do thời tiết nhiệt ẩm, mưa bão, lũ lụt, đặc biệt là sự biến đổi khí hậu trong nhiều năm gần đây. Việt Nam là quốc gia có chiều dài bờ biển khoảng gần 3.500 km cùng với hơn 2.773 hòn đảo lớn, nhỏ. Dọc bờ biển và trên một số hòn đảo có rất nhiều nền văn hoá khảo cổ học nổi tiếng và những con tàu cổ đã và chưa được khai quật ở vùng biển nước ta,… là minh chứng sống động cho sự phát triển của hoạt động giao thương kinh tế, văn hoá của nước ta với nhiều nước Á – Âu từ rất sớm; những di tích lịch sử về sự nghiệp xây dựng và bảo vệ nền độc lập dân tộc; nhiều danh lam thắng cảnh và khu dự trữ sinh quyển nổi tiếng được UNESCO ghi danh,… cũng đang đặt ra nhiệm vụ bảo tồn trước sự biến đổi khí hậu và nước biển dâng. 

          Nhiệm vụ bảo tồn, kéo dài “tuổi thọ” di tích lịch sử-văn hóa –  một loại “tài nguyên không thể tái tạo” trong điều kiện biến đổi khí hậu khó lường như hiện nay là một thách thức to lớn đối với thể hệ chúng ta ngày hôm nay. Bên cạnh việc áp dụng những kinh nghiệm, phương pháp bảo tồn truyền thống và ứng dụng phương pháp khoa học – công nghệ hiện đại, cần nghiên cứu triển khai số hóa dữ liệu về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh để có thể khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu mở phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu và trao đổi kinh nghiệm trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản.

          Bốn là, Bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học.

          Việt Nam được xếp vào loại có tính đa dạng sinh học cao. Trong số các di sản thiên nhiên có 3 di sản được UNESCO ghi danh là Di sản thiên nhiên thế giới: Vịnh Hạ Long được ghi danh 2 lần (lần thứ nhất – năm 1994 về vẻ đẹp, lần thứ hai – năm 2000 về địa chất địa mạo, và hiện nay Thành phố Hải Phòng đang cùng với Tỉnh Quảng Ninh xây dựng hồ sơ trình UNESCO ghi danh Vịnh Hạ Long – Quần đảo Cát Bà là Di sản thế giới về đa dạng sinh học). Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng cũng được UNESCO ghi danh 2 lần (lần thứ nhất – năm 2003 về địa chất địa mạo, lần thứ hai – năm 2015 về đa dạng sinh học). Quần thể danh thắng Tràng An gồm 3 bộ phận hợp thành Giá trị Nổi bật Toàn cầu là giá trị về địa chất địa mạo – cảnh quan, giá trị rừng nguyên sinh đặc dụng Hoa Lư và giá trị lịch sử – văn hóa. Việt Nam còn có các khu dự trữ sinh quyển quốc gia được UNESCO ghi danh, các khu di sản thiên nhiên của Asean,…

          Có phần khác với bảo tồn di tích lịch sử – văn hóa, trong bảo tồn đa dạng sinh học không phải là bảo tồn nguyên trạng mà là vừa bảo tồn vừa phát triển bền vững. Trong điều kiện biến đổi hệ sinh thái, cần nghiên cứu thực hiện các giải pháp hạn chế sự suy giảm hoặc biến mất của một số loài đặc hữu và sự xâm nhập của các loài ngoại lai, đồng thời phải hình thành được cơ chế phối hợp liên ngành với các tổ chức có liên quan và ứng dụng khoa học – công nghệ hiện đại trong công tác quản lý, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học.

          Năm là. Tăng cường năng lực quản lý và phát triển nguồn nhân lực phát triển bền vững.

          Mục tiêu hướng tới của việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực cho bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh là xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn có tính chuyên nghiệp cao, một đội ngũ thợ lành nghề được trang bị và nắm vững những quy định của Luật Di sản văn hóa và những văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, cũng như những quy định của Công ước và Hiến chương quốc tế về Di sản thế giới; được trang bị các phương pháp khoa học về bảo tồn truyền thống và hiện đại; có năng lực phối hợp và liên kết với các chuyên gia trên nhiều lĩnh vực khác nhau, cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội nhân văn để quản lý và triển khai trên thực tế các hoạt động quy hoạch, thiết kế, bảo quản, tu bổ, tôn tạo, phục hồi di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh.

          Do đặc điểm và tính đặc thù của nguồn nhân lực tham gia hoạt động quản lý, bảo tồn di sản là tính đa nguồn về các lĩnh vực mà người học đã được đào tạo tại các trường đại học (kiến trúc, xây dựng, vật lý, hóa học, tin học, sử học, văn hóa học, mỹ thuật, nhân học, khảo cổ học, sinh học, văn hóa dân gian,…), nghệ nhân, thợ lành nghề, nên chương trình học, cách học, thời gian học phải được thiết kế một cách khoa học. Hết sức chú ý đào tạo thợ lành nghề truyền thống phục vụ công tác bảo tồn di tích, kỹ năng thực hành, hướng dẫn và trao đổi trực tiếp với người học tại di tích (“hội thảo đầu bờ”); sử dụng hiệu quả các trang thiết bị hiện đại vào công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Đối với các khu di tích và danh lam thắng cảnh hiện có dân cư sinh sống, thì phải coi cộng đồng dân cư là đối tượng cần được đào tạo, là nguồn nhân lực cho phát triển bền vững thông qua việc hướng dẫn cho họ nhận biết được giá trị của di sản; đào tạo người có tay nghề, có kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn tham gia vào công tác bảo tồn, hướng dẫn viên du lịch, nhất là du lịch trải nghiệm,…, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống cộng đồng để cộng đồng gắn bó, tham gia có trách nhiệm vào công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản.

3.Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn di sản văn hóa với phát triển kinh tế – xã hội

          Không phải ở đâu và cũng không phải lúc nào người ta cũng giải quyết được một cách hài hòa giữa bảo tồn di tích lịch sử – văn hóa với phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là trong không gian đô thị. Không phải chỉ ở nước nghèo mà ngay cả ở nước phát triển thì sự “xung đột” đó vẫn thường xảy ra. Và, trên thực tế, vì những lý do khác nhau, trong khá nhiều trường hợp, sự “xung đột” thường kết thúc với lợi thế về phía phát triển kinh tế – xã hội.

          Hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa và phát triển kinh tế – xã hội không phải là hai mặt đối lập mà là một thể thống nhất, đều hướng tới mục tiêu chung là vì sự phát triển bền vững. Ở nước ta, sự “xung đột” giữa bảo tồn và phát triển như nêu trên không phải hiếm gặp ở nơi này, nơi kia.

          Di tích lịch sử – văn hoá là một loại tài nguyên không thể tái sinh, không thể thay thế, nên về mặt nguyên tắc, không được huỷ hoại, không được làm ảnh hưởng đến giá trị, tính xác thực, yếu tố gốc cấu thành di tích, tính toàn vẹn của di sản; cần thực hiện nghiêm túc quy định của Luật Di sản văn hoá về các khu vực bảo vệ của di tích. Đối với di tích còn nằm trong lòng đất (di tích khảo cổ học) được phát hiện khi xây dựng các công trình kinh tế – xã hội thì phải báo cho cơ quan quản lý di sản để phối hợp tìm các giải pháp giải quyết hài hòa giữa bảo tồn và phát triển.

          Ở nhiều nước trên thế giới và cả ở Việt Nam, để giải quyết hài hòa giữa bảo tồn di tích thuộc loại hình khảo cổ học và xây dựng các công trình phát triển kinh tế – xã hội, thường được áp dụng một trong 3 giải pháp:

          Một là, di tích được xác định có giá trị đặc biệt, có điều kiện kinh tế – kỹ thuật – công nghệ bảo tồn, bảo vệ và phát huy giá trị di tích thì xây dựng dự án bảo tồn tại chỗ như là một “bảo tàng ngoài trời” phục vụ công tác nghiên cứu, tham quan du lịch.

          Hai là, di tích được xác định có giá trị quan trọng, nhưng trước mắt chưa có điều kiện bảo tồn tại chỗ thì đưa hiện vật khai quật được về bảo quản và trưng bày trong bảo tàng; tiến hành phủ lớp vải địa kỹ thuật lên toàn bộ bề mặt hố khai quật, rồi lấp cát và bàn giao mặt bằng cho chủ dự án, khi có điều kiện thì khai quật trở lại. Phía trên bề mặt hố khai quật được cắm mốc giới và biển giới thiệu về di tích.

          Ba là, di tích có giá trị, nhưng không có điều kiện bảo tồn tại chỗ, trong khi yêu cầu xây dựng công trình phát triển kinh tế – xã hội thấy cần được ưu tiên (như làm đường giao thông,…), sau khi hoàn thành công tác khai quật khảo cổ học thì chuyển toàn bộ tài liệu, hiện vật về lưu trữ, bảo quản tại bảo tàng phục vụ công tác nghiên cứu, trưng bày, phát huy giá trị di tích; đồng thời, lấp hố khai quật, bàn giao mặt bằng cho chủ dự án tiếp tục thi công công trình xây dựng.

          Các tổ chức quốc tế đã từng đưa ra những khuyến nghị: Khi xây dựng chính sách, thực hiện các dự án phát triển kinh tế – xã hội cần có sự “vào cuộc” ngay từ đầu của 3 lực lượng: nhà quản lý, chủ dự án, chuyên gia các lĩnh vực có liên quan và cộng đồng được hưởng lợi hoặc bị thiệt thòi từ chính sách hoặc dự án mang lại. Việc chủ động phối hợp chặt chẽ giữa 4 lực lượng nêu trên sẽ đảm bảo tính pháp lý, tính thực tiễn trong việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn di sản với phát tiển kinh tế – xã hội.

          Một vài ví dụ nêu trên về việc thực hiện các giải pháp giải quyết hài hòa giữa bảo tồn di sản văn hóa với phát triển kinh tế – xã hội cho thấy, việc giải quyết các “xung đột” này không hề giản đơn, nhưng không phải là không thể giải quyết được. Và, trên thực tế, chúng ta đã giải quyết được. Để chủ động ngừa trước sự “xung đột” có thể xảy ra, trong quá trình chuẩn bị và triển khai xây dựng các đồ án quy hoạch, các ngành có liên quan, như xây dựng, kiến trúc, giao thông, điện lực,… cần chủ động phối hợp với ngành văn hóa nghiên cứu sự phân bố các loại hình di tích trong khu vực lập quy hoạch để quy hoạch được lập và thực hiện việc cải tạo, xây dựng không làm ảnh hưởng đến di tích cả trên mặt đất và dưới lòng đất.     

          Kho tàng di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh và di sản văn hóa phi vật thể mà tiền nhân để lại là một loại tài sản to lớn và quý giá, một nguồn lực cho phát triển bền vững. Thế hệ chúng ta ngày hôm nay có trách nhiệm bảo tồn và phát huy hiệu quả những giá trị di sản vào sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội ngày hôm nay và chuyển giao tài sản đó cho các thế hệ mai sau. Đó chính là phát triển bền vững./.

GS.TSKH. Lưu Trần Tiêu

 

Tài liệu tham khảo:

1. Ban quản lý Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, 2018: Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng: Nghiên cứu khoa học đóng góp cho bảo tồn và phát huy giá trị Di sản thế giới. Kỷ yếu Hội thảo Bảo tồn và phát huy giá trị Di sản thế giới Quần thể danh thắng Tràng An gắn với phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình. Ninh Bình, 2018.

2. Trương Quang Học, 2012: Việt Nam – Phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi toàn cầu. Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ IV, Hà Nội, 2012.

3. Hoàng Đạo Kính, 2002: Di sản văn hóa – Bảo tồn và trùng tu.Nxb Văn hóa Thông tin. Hà Nội, 2002.

4. Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội, 2009.

5. Lưu Trần Tiêu, 2011: Mấy vấn đề về hoạt động tu bổ, phục hồi di tích lịch sử – văn hoá. Tạp chí Di sản văn hoá, số 3 (36) – 2011.

6. Lưu Trần Tiêu, 2012: Mấy vấn đề về nguồn nhân lực trong hoạt động bảo tồn di tích lịch sử – văn hóa.Tạp chí Di sản văn hóa, số 3(40)-2012.

7. Lưu Trần Tiêu, 2013: Di sản văn hoá phi vật thể – Bảo tồn và phát huy, kế thừa và phát triển. Hội thảo quốc tế 10 năm Công ước UNESCO về di sản văn hoá phi vật thể. Hội An, 2013.

8. Lưu Trần Tiêu, 2015: Tổng kết Hội thảo khoa học Văn hoá biển đảo – bảo vệ và phát huy giá trị. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Văn hoá biển đảo – Bảo vệ và phát huy giá trị. Nxb Thế giới. Hà Nội, 2015.

9. Lưu Trần Tiêu, 2017: Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vì sự phát triển bền vững.Kỷ yếu Hội thảo khoa học Di sản văn hóa với Chiến lược phát triển bền vững. Hà Nội, 2017.

10. Lưu Trần Tiêu, 2018: Di sản văn hóa Hà Nội – Một nguồn lực cho phát triển bền vững.Kỷ yếu Hội thảo khoa học Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa Thủ đô Hà Nội. Hà Nội, 2018.